Thai nhi to lớn thì có tốt hay không?

Thai nhi to lớn thì có tốt hay không?  Theo các chuyên gia về sản khoa, trong trường hợp bình thường, trọng lượng của trẻ sơ sinh khoảng 3kg.

Nhưng có không ít trường hợp hiện nay trẻ sơ sinh to lớn, mập mạp, trọng lượng cơ thể trên 4kg, lâm sàng gọi những đứa trẻ này là trẻ to lớn trong thời kỳ thai nhi. Những đứa trẻ to lớn trong thời kỳ thai nhi, ít nhiều đều có những ảnh hưởng không tốt cho quá trình sinh đẻ và trong một số trường hợp còn ảnh hưởng tới sức khỏe và sự phát triển của trẻ.

Nguyên nhân dẫn đến thai nhi to lớn

– Do vóc người của cha mẹ thai nhi cao lớn nên thông qua tác dụng di truyền đã biểu hiện trên cơ thể con cái.

– Trong nhiều trường hợp chế độ dinh dưỡng của thai phụ trong thời gian mang thai có chứa nhiều chất đường và chất béo hoặc thai phụ hấp thu nhiều chất dinh dưỡng khác trong thời gian mang thai. Những dinh dưỡng từ mẹ này được thai nhi hấp thu rất tốt nên cơ thể của thai nhi phát triển nhanh.

– Trong một số trường hợp là do thai phụ mắc bệnh tiểu đường, nhất là tiểu đường tính ẩn chưa được phát hiện. Những thai phụ này do insulin trong cơ thể tiết ra không đủ, nồng độ đường huyết tăng cao, lượng đường thông qua nhau thai vào hệ tuần hoàn máu của thai nhi, làm cho nồng độ đường huyết trong máu của thai nhi cũng ở mức tương đối cao, phản hồi kích thích ở tuyến tụy, làm cho cơ thể thai nhi tiết insulin quá nhiều hình thành nên chứng tăng insulin huyết, khiến lớp mỡ, glycogen, protein tích lũy trong cơ thể thai nhi từ đó làm cho trẻ to lớn.

thai-nhi-to-lon-co-tot-khong

Những ảnh hưởng của trẻ to lớn

Ảnh hưởng thông dụng và dễ thấy nhất là trẻ càng to lớn thì quá trình sinh đẻ bằng con đường sinh đẻ tự nhiên càng khó khăn.

Trong một số trường hợp, trẻ to lớn sau khi chào đời, không thể có được lượng đường tương đối nhiều thông qua sự tuần hoàn máu, nhưng insulin huyết vẫn tiếp tục tồn tại trong cơ thể trẻ, làm cho nồng độ đường huyết trong cơ thể thai nhi giảm, dẫn đến hạ đường huyết. Như thế trẻ sơ sinh có thể xuất hiện phản ứng chậm chạp, tiếng khóc nhỏ, yếu ớt, nhãn cầu chuyển động không bình thường, ngưng thở từng cơn, rùng mình, trường hợp nặng có thể ngất lịm. Nguyên trọng hơn, do nồng độ đường huyết quá thấp, thời gian sinh đẻ kéo dài có thể làm tổn thương tế bào não của trẻ sơ sinh gây ra những di chứng về sau như giảm trí tuệ… có thể thấy thai nhi càng lớn, càng to thì độ nguy hiểm càng tăng.

Thai phụ cần làm gì?

Hiện nay, mức sống của người dân không ngừng được nâng cao, dinh dưỡng trong bữa ăn được cải thiện nhiều hơn, thai phụ trong khi mang thai hấp thu quá nhiều dinh dưỡng lại ít vận động, trẻ sơ sinh to lớn ngày càng nhiều. Vì thế, thai phụ phải chú ý điều chỉnh chế độ dinh dưỡng trong khi mang thai tránh ăn những thực phẩm chứa nhiều đường và chất béo, tham gia vận động thích hợp, đảm bảo sự khỏe mạnh cho thai nhi.

Bên cạnh đó thai phụ nên thường xuyên khám thai theo định kỳ, kịp thời phát hiện và điều trị bệnh tiểu đường, theo dõi thường xuyên sự phát triển của thai nhi. Đến cuối thai kỳ việc kiểm tra cân nặng của thai nhi và rất cần thiết, thông qua các chỉ số về thai nhi các bác sỹ sẽ cho chỉ định sinh thường hay sinh mổ, thai phụ cần thực hiện theo ý kiến bác sỹ.

Giai đoạn bầu bí và những dấu hiệu cần phải đề phòng

Trong thời gian thai kỳ, khi có dấu hiệu sốt cao, chảy máu âm đạo, đau bụng bất thường… thì bạn cần phải đặc biệt chú ý và gọi ngay cho bác sĩ.

Nôn nhiều

Nếu bạn nôn nhiều hơn 2-3 lần/ngày trong quý I; nôn nhiều ở quý II hoặc những cơn nôn đi kèm dấu hiệu tăng thân nhiệt, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ.

Rối loạn thị giác

Thai phụ nhìn mờ, nhìn một thành hai, có đốm sáng ở mắt… có thể là dấu hiệu của tiền sản giật.

Chóng mặt, choáng váng

Biểu hiện này có thể do bạn chưa nạp đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày. Nó cũng là dấu hiệu của chứng huyết áp thấp. Khá nhiều bà bầu có cảm giác đầu óc lâng lâng khi mang thai.

hung-dau-hieu-phai-de-phong-trong-giai-doan-bau-bi

Nếu bạn thấy chóng mặt nghiêm trọng, nên trao đổi với bác sĩ để kiểm tra nguyên nhân.

Sốt cao

Nếu sốt cao mà không kèm các dấu hiệu của cảm cúm, thai phụ nên nhanh chóng đi khám. Tình trạng này có thể cảnh báo nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm.

Tăng cân quá nhanh

Đột nhiên, bạn tăng cân vù vù dù không ăn, uống nhiều; đi kèm đó, bạn còn có dấu hiệu phù nề chân tay, đau đầu, rối loạn thị giác – đây có thể là dấu hiệu của tiền sản giật.

Ra máu âm đạo

Nếu lác đác vài giọt thì có thể không nguy hiểm. Nếu chảy nhiều thì đó có thể là sảy thai, thai ngoài tử cung hoặc sinh non.

Thai phụ bị ra máu nặng, đi kèm với những cơn đau vùng lưng, bụng thì nguy cơ sảy thai càng lớn. Chảy máu trong khoảng thời gian cuối thai kỳ thì có thể cảnh báo nguy cơ sinh non hoặc chứng xơ hóa dây rốn. Khoảng tuần thứ 37, dấu hiệu ra máu có thể cảnh báo tình trạng chuyến dạ.

Những cơn đau đầu kéo dài 2-3 giờ đồng hồ

Đi kèm với dấu hiệu rối loạn thị giác, phù nề vùng tay, mắt và mặt thì có thể huyết áp của bạn đang tăng rất cao.

hung-dau-hieu-phai-de-phong-trong-giai-doan-bau-bi

Tiểu ít hoặc không buồn tiểu

Đây có thể là dấu hiệu của chứng mất nước hay tiểu đường thai kỳ. Tình trạng này tương đối nguy hiểm với sức khỏe người mẹ và em bé.

Thân nhiệt tăng kèm theo triệu chứng đau buốt khi đi tiểu

Một số thai phụ, dấu hiệu trên còn đi kèm với tình trạng đau lưng. Những yếu tố này có thể cảnh báo nguy cơ viêm đường tiết niệu.

Những cơn đau vùng bụng dưới

Dấu hiệu này có thể liên quan đến chứng thoái hóa xơ, tình trạng chuyển dạ sớm, sinh non, sảy thai…

Đau bụng trên hoặc đau quanh rốn

Tình trạng này có thể đi kèm với triệu chứng nôn. Đây có thể là biểu hiện của chứng rối loạn tiêu hóa hoặc tiền sản giật.

Thai ít máy

Nếu tần suất chuyển động của bé ngày một ít đi, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ. Đây có thể là dấu hiệu trục trặc sức khỏe ở bé.

Lưu ý: Nếu bạn nhận thấy những dấu hiệu bất thường khác trong thai kỳ, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ sớm. Bạn tuyệt đối tránh dùng tất cả các loại thuốc mà không có chỉ định của bác sĩ.

Trong suốt thời gian mang thai, bà bầu nên mặc như thế nào?

Trong suốt thời gian mang thai, bà bầu nên mặc như thế nào? Bà bầu nên có sự điều chỉnh trong cách ăn mặc của mình sao cho phù hợp với sự phát triển của cơ thể và thai nhi.

Mặc quần áo chật sẽ không tốt cho mẹ và thai nhi

Trong thời kì mang thai, cơ năng sinh lý và thể hình của phụ nữ đều có những biến đổi rõ rệt. Sự biến đổi này biểu hiện chủ yếu ở những mặt sau:

– Cùng với sự phát triển của thai nhi, tử cung ngày một to ra, vòng bụng của người mẹ cũng lớn hơn. Vì thế, thai phụ cần phải có trang phục phù hợp với thế đi ưỡn người về phía trước để đảm bảo cân bằng.

– Dung lượng máu trong cơ thể thai phụ tăng, dễ xảy ra hiện tượng tích tụ natri. Từ tuần thai thứ 28 trở đi, đa phần phụ nữ mang thai xuất hiện hiện tượng phù thũng ở mức độ khác nhau, song biểu hiện chủ yếu là ở chân. Vì vậy, bà bầu cần lưu ý để chọn lựa quần áo và giày dép sao cho thật thoải mái, đảm bảo khí huyết lưu thông dễ dàng.

ba-bau-nen-mac-nhu-the-nao-trong-thai-ky

– Hoạt động trao đổi chất ở phụ nữ mang thai diễn ra mãnh liệt, nhiệt độ của da nóng lên, chức năng bài tiết tuyến nhờn và tuyến mồ hôi tăng cường. Đòi hỏi quần áo, tất phải thoáng, thấm được mồi hôi.

– Do ảnh hưởng của sự thay đổi nội tiết nên ngực của phụ nữ mang thai ngày một to lên và để đảm bảo hô hấp đủ ôxi cần thiết cho cơ thể người mẹ cùng thai nhi. Ngoài ra, sự hô hấp được tăng cường, khiến ngực càng to hơn so với bình thường. Vì vậy, bà bầu không nên mặc áo lót chật, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người mẹ và thai nhi.

Bà bầu nên lựa chọn trang phục như thế nào?

– Áo: Nên rộng rãi, thoáng khí, không nên bó sát vào người. Chất liệu cần thấm mồ hôi, thông khí. Đặc biệt, quần áo lót nên chọn những sản phẩm có chất liệu cotton.

Về kiểu cách, áo nên chọn theo sở thích của từng người. Tuy nhiên, bạn không nên chọn những tông màu nóng, đặc biệt là về mùa hè, vì lúc này những khó chịu do thai nghén cộng với tông màu nóng do quần áo mang lại sẽ khiến bạn càng cảm thấy nóng nực, bức bối và khó chịu thêm.

Đối với áo lót ngực, nên chọn loại có dây chun co giãn tốt, phần mút lót cần mềm mại, có chức năng “nâng đỡ” tốt và bạn nên chọn loại rộng hơn một chút để đảm bảo cho sự hô hấp và sự phát triển của tuyến sữa.

ba-bau-nen-mac-nhu-the-nao-trong-thai-ky

– Quần: Để có thể tiết kiệm tiền, bạn nên tận dụng những chiếc quần cũ và sửa lại cho phù hợp với bạn để tiết kiệm tiền, vì bạn chỉ dùng đến chúng trong một thời gian ngắn, tuy nhiên bạn phải đảm bảo được sự thoải mái và đảm bảo vệ sinh. Bạn cần mặc quần chun và nên lới lỏng một chút cho thoải mái. Những tháng cuối của thai kỳ bạn nên mặc váy bầu thay cho mặc quần.

– Giày dép: Nên mềm mại vừa chân, thấm mồ hôi, đặc biệt là khi bạn bị phù chân thì bạn càng phải chú ý đến việc lựa chọn giày dép. Vì phần bụng của bạn lúc này nhô ra trước, trọng tâm luôn ở phía trước nên giày cao gót sẽ gây cảm giác khó chịu và nếu không cẩn thận sẽ dễ bị vấp ngã do mất thăng bằng, không an toàn.

Cuối kì thai nghén, mức độ phù chân của mỗi phụ nữ khác nhau. Lúc này, lòng bàn chân chịu áp lực lớn, tạo thành hình phẳng, khiến chân rất dễ đau, mỏi, thậm chí bị chuột rút, cho nên bạn hãy chọn những đôi giày, dép có bản rộng, có thể đệm bông dày 2-3 cm để lòng bàn được dễ chịu hơn.

– Chọn tất: Bạn không nên chọn những đôi tất dài bằng nilon hoặc đàn hồi trong thời gian dài, bởi vì những loại tất này có thể gây trở ngại cho việc lưu thông máu từ tĩnh mạch chân tới tim, khiến phù chân càng trở nên trầm trọng.

– Dây bó bụng: Nhìn chung, các đồ dùng dành cho bà bầu nên rộng rãi, mềm mại. Tuy nhiên, có những thai nhi quá to, nước ối quá nhiều, hoặc ngôi thai ngược khiến cơ bụng thai phụ giãn ra, bụng sụt xuống thấp, làm tăng gánh nặng cho xương sống thì lúc này phụ nữ mang thai cần bó bụng.

Chú ý: Dây bó bụng phải đảm bảo giữ được thành bụng, đỡ chắc tử cung, giảm gánh nặng cho vùng eo, như thế sẽ có lợi cho việc lưu thông máu ở chân. Nhưng, khi sử dụng dây bó cần chú ý xem thao tác thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất là cuốn hơi thấp một chút để bụng dưới cao lên, thứ hai là không nên cuốn quá chặt.

Tìm hiểu về quá trình thụ thai tự nhiên

Tìm hiểu về quá trình thụ thai tự nhiên qua bài viết sau đây. Em bé được sinh ra do sự kết hợp giữa tinh trùng của người bố và trứng của người mẹ.

Tinh trùng thì có hàng trăm triệu “chàng”, nhưng trứng thì chỉ có một “nàng”, vậy làm thế nào để các “chàng” tinh binh có thể “đột nhập” vào “nàng” trứng được? “Chàng” nào sẽ là người chiếm giữ được khung thành và sau khi tinh trùng gặp trứng chuyện gì sẽ xảy ra?

Sự thụ thai diễn ra như thế nào?

Sau khi người nam xuất tinh vào âm đạo của người phụ nữ, tinh dịch chứa khoảng 300 đến 500 triệu tinh trùng sẽ phóng thẳng vào âm đạo. Ngoài ra, chất dịch tiết ra từ dương vật trước khi xuất tinh cũng có thể chứa một lượng nhỏ tinh trùng.

qua-trinh-thu-thai-tu-nhien-dien-ra-nhu-the-na

Từ trong âm đạo, các tinh trùng bắt đầu từ những vị trí khác nhau, có “chàng” đã được bắn thẳng vào trong tử cung, có “chàng” đậu ở cổ tử cung, có “chàng” nằm ngay ở cửa âm đạo, nhưng thông thường các “chàng” nằm ở trong âm đạo trước cổ tử cung. Tại điểm xuất phát của mình, tinh trùng bắt đầu bơi qua vùng chất nhầy để tìm “nàng trứng”. Trong quá trình này, các “chàng” quẫy đuôi liên tục, bơi lên buồng tử cung rồi vào ống dẫn trứng. Điểm hẹn của tinh trùng và trứng là đoạn một phần ba phía ngoài ống dẫn trứng. Đến đây, nếu may mắn thì các “chàng tinh trùng” sẽ gặp được một “nàng trứng” đón chờ.

Thông thường, cứ đến ngày trứng rụng thì từ buồng trứng bên phải hoặc bên trái sẽ có một nàng trứng bứt mình ra khỏi buồng trứng, di chuyển xuống ống dẫn trứng nằm đợi các chàng tinh trùng khoảng 2 đến 3 ngày, cũng có thể khi nàng trứng xuất hiện thì cũng có những “chàng tinh trùng” đến sớm đã đậu sẵn ở đó để chờ đợi sự xuất hiện của “nàng” (tinh trùng chỉ có khả năng cầm cự được khoảng 24h trong cơ quan sinh dục của người nữ). Tại noãn trứng xảy ra một cuộc chiến giữa các “chàng tinh trùng, tinh trùng nào cũng ra sức “đào bới” để được chui vào bên trong noãn. Trứng sẽ “kết duyên” cùng một “chàng” nhanh nhẹn, khoẻ mạnh nhất. Sau khi kết hợp với một tinh trùng, trứng tiết ra một vỏ bọc chắc chắn, không kẻ thứ hai nào xâm nhập được nữa (tuy nhiên, xác suất việc 2 chàng tinh trùng cùng xâm nhập vào một nàng trứng vẫn có thể diễn ra. Khi tinh trùng đã chui vào bên trong trứng, cả hai sẽ hợp thành một tế bào gọi là “hợp tử” (hay “trứng thụ tinh”).

Sự làm tổ của trứng thụ tinh

Sau khi thụ tinh, hợp tử phải làm tổ ở một chỗ thích hợp đó là buồng tử cung để phát triển thành thai nhi, bởi vì ống dẫn trứng nhỏ, kém co giãn, không phải là chỗ để bé thành hình. Hợp tử phải mất vài ngày, thậm chí một tuần mới về đến tử cung. Trên đường đi, hợp tử phân chia thành một khối tế bào (còn rất nhỏ). Khi trứng đã di chuyển xuống tử cung và bám vào lớp màng mỏng trên thành tử cung và làm tổ tại đây gọi là sự thụ thai, từ đó phôi thai bắt đầu phát triển. Sự làm tổ này hoàn thành khoảng 2 tuần sau khi trứng rụng.

Tuy nhiên, chỉ có khoảng 2/3 số hợp tử làm tổ được, các hợp tử còn lại bị loại bỏ vì không khỏe mạnh.

Sau khi trứng đã được thụ thai, khối tế bào sẽ phát triển thành bào thai nằm trong túi ối, lấy chất dinh dưỡng từ máu mẹ qua rau thai (nhau thai) để sống và thành hình, để khoảng chín tháng sau, một em bé chào đời.

Hiện tượng trứng thụ tinh bám vào lớp màng mỏng trên thành tử cung được gọi là thụ thai. Nhưng giai đoạn đầu không ổn định, đôi khi hiện tượng sảy thai ở giai đoạn này vẫn có thể xảy ra. Hoặc trứng thụ tinh không thể đi qua ống dẫn trứng và bám vào thành ống, sẽ dẫn đến hiện tượng có thai ngoài ngoài dạ con.

qua-trinh-thu-thai-tu-nhien-dien-ra-nhu-the-na

Tại sao lại sinh ra bé trai và bé gái?

Khoa học đã phát hiện ra rằng, cốt lõi của giới tính nằm trong bộ nhiễm sắc thể. Mỗi tế bào có 23 cặp nhiễm sắc thể, trong đó một cặp quy định giới tính (ở nữ giới là XX, ở nam giới là XY).

Tế bào sinh dục chỉ có 23 nhiễm sắc thể đơn lẻ, trong đó chỉ có một nhiễm sắc thể giới tính. Trứng dĩ nhiên chỉ mang một X, còn tinh trùng có thể mang một X hoặc một Y. Khi thụ tinh, hợp tử thừa hưởng hai nhiễm sắc thể giới tính của mẹ và của cha, phát triển thành trai hay gái là do tinh trùng của cha quyết định. Nếu tinh trùng mang X, hợp tử có cặp XX, phát triển thành con gái. Nếu tinh trùng mang Y, hợp tử có cặp XY, phát triển thành con trai.

Những tác động đến việc hình thành giới tính cho thai nhi chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện cho 1 trong 2 tinh trùng X hoặc Y khỏe mạnh hơn để khả năng thụ thai ra hợp tử bé trai hoặc bé gái cao hơn. Bản thân cha mẹ không quyết định được việc trứng sẽ gặp tinh trùng loại nào, nên việc con bạn được sinh ra là trai hay gái mang tính chất ngẫu nhiên.

Tình trạng suy dinh dưỡng thai nhi trong tử cung

Trọng lượng thai nhi khi ra đời trung bình đạt từ 2500g đến 4000g. Khi trọng lượng thai thấp hơn giới hạn này, tình trạng suy dinh dưỡng thai nhi trong tử cung ra đời.

Thế nào là suy dinh dưỡng thai nhi trong tử cung?

Sự phát triển của bào thai hoàn toàn thuộc vào người mẹ. Do đó, dinh dưỡng của trẻ trong bào thai hầu như phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng của mẹ qua ăn uống, tuần hoàn và quá trình trao đổi chất.

Suy dinh dưỡng thai nhi trong tử cung là hiện tượng trẻ sinh ra đủ tháng, nhưng cân nặng dưới 2,5kg. Nhìn bề ngoài, trẻ không khác một đứa trẻ đủ tháng nhưng vóc dáng bé nhỏ, da hơi nhăn nheo, khô và lớp mỡ dự trữ dưới da mỏng.

Phân biệt với trẻ đẻ non. Cả hai hiện tượng này đều giống nhau ở cân nặng của trẻ sau khi chào đời. Tuy nhiên, trẻ đẻ non còn liên quan tới yếu tố thời gian (tuần thai). Trẻ đẻ non khi ra đời từ tuần lễ thứ 22 đến hết tuần lễ thứ 36, cân nặng chỉ từ 1kg đến dưới 2,5kg, thậm chí chưa được 1kg. Trẻ đẻ non vóc dáng cũng nhỏ, lớp mỡ dưới da cũng ít nhưng da rất mỏng, có khi còn nhìn rõ các mạch máu ở phía dưới. Trên da còn mọc nhiều lông tơ. Bộ phận sinh dục ở con trai có thể tinh hoàn chưa xuống đến bìu (một hoặc cả hai bên), gan bàn chân trơn lì, rất ít nếp nhăn giống trẻ đủ tháng.

uy-dinh-duong-thai-nhi-trong-tu-cung

Các mức độ suy dinh dưỡng và khả năng sống sót của thai nhi

– Mức độ suy dinh dưỡng nhẹ: Những trẻ có vòng đầu bình thường là suy dinh dưỡng trong tử cung mức độ nhẹ, phần lớn là do mẹ bị bệnh cao huyết áp. Những trẻ này, khi trong thời kỳ bào thai, sự phân chia tế bào đã tương đối hoàn chỉnh, khối lượng tế bào bình thường, do đó vấn đề nuôi dưỡng không khó khăn lắm. Nếu sống qua được giai đoạn sơ sinh và nuôi dưỡng đúng cách thì sau này có thể phát triển tương đối bình thường về mặt tinh thần và vận động.

– Nếu suy dinh dưỡng trong tử cung ở mức độ trung bình: Trẻ có thể sống sót, nhưng khi sinh thường dễ bị ngạt, viêm phổi, chảy máu, hạ đường huyết. Lớn lên chúng có thể xảy ra một số nguy cơ như: chậm lớn, chậm phát triển về tinh thần và thậm chí còn có di chứng thần kinh.

– Mứa độ cao: Ngay trong bào thai đã có biểu hiện giảm rõ rệt số lượng tế bào trong cơ quan, chủ yếu là tế bào não. Trẻ có biểu hiện da khô nhăn nheo, vàng; viêm gan; nhiễm trùng hô hấp; đa hồng cầu, dung tích hồng cầu cao. Trẻ có thể bị chết trong giai đoạn sơ sinh do bị ngạt, viêm phổi, hít phải nước ối hoặc bị nhiễm trùng nặng. Những trẻ này thường hay bị dị tật bẩm sinh.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây ảnh hưởng dinh dưỡng thai nhi thường thuộc 4 nhóm:

– Từ phía người mẹ: Dinh dưỡng kém, bệnh lý nội khoa mãn tính, chất lượng tuần hoàn kém (trong các bệnh lý mạch máu, tim phổi), tiểu đường.

– Từ tình trạng tử cung: Do u xơ tử cung, tử cung dị dạng… làm giảm chất lượng dinh dưỡng.

– Từ bánh nhau: Xuất hiện các bất thường tại bánh nhau có liên quan đến hệ thống mạch máu, làm giảm tuần hoàn bánh nhau.

– Từ phía thai nhi: Xuất hiện những bất thường do di truyền hay do tình trạng nhiễm trùng bào thai, làm giảm khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng.

Các nguy cơ có thể gặp khi bị suy dinh dưỡng thai nhi

Trong lúc mang thai: Thai có thể bị chết đột ngột do không lấy được oxy và chất dinh dưỡng.

Trong lúc chuyển dạ: Thai vẫn có thể chết do ngạt hay các sang chấn như: gãy xương, liệt thần kinh, xuất huyết não. ..

Khi trẻ ra đời: Đó là các bất thường về tiêu hóa, thường gặp là tình trạng hạ đường huyết, hạ canxi huyết hay gây vàng da trong giai đoạn sơ sinh.

Về lâu dài, có thể gặp tình trạng bất thường về các hệ cơ quan, rối loạn tiêu hoá, rối loạn dậy thì.

Chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng

Nếu ở mức độ suy dinh dưỡng nhẹ, khả năng sống của thai nhi rất cao. Tuy nhiên cần phải lưu tâm hơn trong việc chăm sóc chúng, bởi trẻ yếu và sức đề kháng thấp nên có rất nhiều nguy cơ đe doạ. Ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và đầy đủ như đối với trẻ bình thường, trẻ sơ sinh suy dinh dưỡng trong tử cung cần được quan tâm hơn về nguyên tắc vô khuẩn và sữa mẹ. Cụ thể hơn cần chú ý thực hiện thật nghiêm túc các điều sau:

– Mọi thao tác chăm sóc và nuôi dưõng phải đảm bảo sạch sẽ, vô trùng.

– Cần nuôi trẻ bằng sữa mẹ. Trường hợp bà mẹ không có sữa, hoặc vì lí do bệnh tật không thể cho con bú được cần cho trẻ “bú rình” người trong họ hàng đang cho con bú.

– Số lần bú hàng ngày phải nhiều hơn. Ba ngày đầu phải cho trẻ bú trên 20 lần/ngày (gần 1giờ/ lần). Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 cũng phải từ 12 – 15 lần/ngày. Sang tuần thứ hai, số lần có thể giảm xuống 8 – 10. Mỗi lần bú cho trẻ bú ít một, bú từ từ. Trường hợp trẻ không tự bú được phải vắt ra và cho trẻ uống.

uy-dinh-duong-thai-nhi-trong-tu-cung

– Phải luôn giữ ấm cho trẻ. Đi tất, gang tay, đội mũ cho trẻ. Ngoài ra có thể dùng các dụng cụ hỗ trợ điều hoà thân nhiệt như điều hoà, đèn sưởi. Tuy nhiên, trong tháng đầu người mẹ nên ấp ủ con trực tiếp vào ngực, bụng mình sao cho da mẹ và da con sát vào nhau để hơi ấm của mẹ truyền sang con, có thể sử dụng phương pháp “chuột túi”.

Cách phòng tránh

– Từ phía người mẹ: Như đã nói ở trên, việc mẹ thiếu chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Do vậy, bà bầu cần ăn uống các loại thức ăn giàu chất dinh dưỡng là điều cần thiết. Đồng thời, các chế độ làm việc, nghỉ ngơi cũng cần phải hợp lí để đảm bảo sức khoẻ cho cả mẹ và thai nhi. Nếu thai phụ bị mắc một số bệnh nằm trong danh sách không nên mang thai như: tim, viêm gan… hoặc các bệnh khác thì cần hết sức cẩn thận.

– Cần đến khám thai định kì: Bằng các kĩ thuật hiện đại, các bác sĩ có thể phát hiện ra sớm tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng. Chẩn đoán thường dựa trên việc xác định kích thước và trọng lượng thai nhi qua các chỉ số đo được bằng siêu âm. Các chỉ số này được so sánh với thông số bình thường (bảng bách phân) như: cân nặng, (cân nặng của thai phụ không tăng đủ mức trung bình), chiều cao tử cung (nhỏ hơn ở người có tuổi thai tương ứng), chu vi vòng bụng và chu vi vòng đầu. Các giá trị khác như: đường kính ngang bụng hay chiều dài xương đùi cũng được dùng để tham khảo. Thêm vào đó còn có thể căn cứ vào độ dày lớp mỡ một số vùng trên cơ thể. Khi tìm ra nguyên nhân họ có thể sử dụng các biện pháp can thiệp trên cơ sở cân nhắc mức độ nguy hiểm đối với mẹ và trẻ, đặc biệt là tương lai của trẻ sau khi chào đời.

– Một tin vui là nếu có chế độ nuôi dưỡng tốt sau một năm (hoặc có thể sau vài năm) trẻ bị suy dinh dưỡng vẫn có thể đuổi kịp những đứa trẻ bình thường khác nhờ tiến bộ của ngành khoa học di truyền. Người ta sẽ tiến hành điều trị bằng hormon tăng trưởng. Đa số trẻ sau khi điều trị đã cho kết quả khả quan, cải thiện rõ rệt về tầm vóc.

– Bất thường dinh dưỡng và phát triển của thai nhi theo hai hướng không đầy đủ, hay quá mức đều có tác động đáng kể đến sức khoẻ thai và diễn tiến của thai kỳ. Phát hiện sớm các tình trạng này thông qua chương trình khám thai đầy đủ và chặt chẽ sẽ giúp chúng ta có hướng can thiệp và dự liệu tốt. Số liệu tại Việt Nam năm 2005 đưa ra: 25% trẻ suy dinh dưỡng có nguồn gốc từ tình trạng suy dinh dưỡng bào thai.

Để có được những đứa trẻ khỏe mạnh, chúng ta hãy tích cực phòng tránh trẻ bị suy dinh dưỡng ngay từ khi trẻ còn trong bào thai.

Vị chua mang lại những tác dụng gì cho phụ nữ mang thai

Bà bầu rất hay thèm vị chua và ăn chua rất nhiều vị chua khi mang thai. Vậy thì vị chua mang lại những tác dụng gì cho phụ nữ mang thai, nó có tốt hay không?

Xét theo góc độ y học hiện đại

Sau khi mang thai, cuống rốn của phụ nữ mang thai sẽ tiết ra hoocmon thúc tuyến tính màng lông. Nó có tác dụng ức chế bài tiết vị toan, khiến lượng vị toan bài tiết ra giảm đáng kể, lâu dần làm giảm hoạt tính của men tiêu hóa, từ đó ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa và ham muốn ăn của phụ nữ mang thai. Do vậy, phụ nữ mang thai sẽ xuất hiện cảm giác buồn nôn, nôn ọe và chán ăn. Do vị chua có thể kích thích dạ dày bài tiết dịch dạ dày, hơn nữa có thể nâng cao hoạt tính của men tiêu hóa, thúc đẩy ruột co bóp, tăng cảm giác thèm ăn, có lợi cho việc tiêu hóa và hấp thu thức ăn, vì thế chỉ cần phụ nữ mang thai ăn một chút đồ ăn chua thì hiện tượng buồn nôn, nôn mửa lập tức giảm với mức độ khác nhau.

tac-dung-cua-vi-chua-voi-phu-nu-mang-thai

Xét theo góc độ dinh dưỡng học

Phụ nữ mang thai ăn nhiều đồ chua cũng có tác dụng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho mẹ và thai nhi. Thông thường, sau 2 – 3 tháng mang thai, xương của thai nhi bắt đầu hình thành. Thành phần chủ yếu cấu thành xương là canxi, song cần phải khiến canxi tập trung lại để hình thành nên xương, bởi vậy nhất thiết phải có sự tham gia của chất chua, phụ nữ mang thai ăn nhiều chất chua có thể giúp ích cho sự phát triển xương của thai nhi. Sắt là nguyên tố vi lượng cần thiết trong cơ thể người, là nguyên liệu không thể thiếu trong việc cấu tạo lên huyết sắc tố mà trong quá trình mang thai bà bầu thường dễ thiếu máu do thiếu sắt.

Tuy nhiên, chỉ có trong môi trường axít nguyên tố sắt mới có thể chuyển từ bậc cao xuống bậc thấp để dạ dày dễ hấp thu, phụ nữ mang thai ăn nhiều đồ chua có lợi cho việc phòng và chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt. Ngoài ra, vitamin C cũng là dinh dưỡng cần thiết cho phụ nữ mang thai và thai nhi, có tác dụng quan trọng đối với thai nhi trong việc hình thành tế bào, cấu thành các bộ phận, phát triển tâm huyết quản, kiện toàn hệ thống tạo máu. Vitamin C còn có thể làm tăng sức đề kháng của cơ thể mẹ, thúc đẩy sự hấp thu sắt mà những thức ăn giàu vitamin C đều có tính chua, phụ nữ chỉ cần ăn đồ chua cũng có thể cung cấp lượng vitamin C tương đối cho cơ thể thai nhi.

Từ đó có thể thấy, phụ nữ mang thai ăn chua là phù hợp với nhu cầu sinh lý và dinh dưỡng. Song, phải có giới hạn nhất định. Theo nghiên cứu khoa học thì thai phụ không nên lạm dụng đồ chua quá mức. Nghiên cứu gần đây đã phát hiện, nếu phụ nữ mang thai ăn quá nhiều đồ chua thì có thể làm giảm nồng độ pH trong cơ thể, dễ gây ra mỏi mệt, rệu rã. Hơn nữa, phụ nữ mang thai ăn chua trong thời gian dài, có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, thậm chí gây dị tật cho thai nhi.

Có một số phụ nữ mang thai thích ăn dưa muối, sản phẩm này mặc dù có vị chua nhất định, song thành phần dinh dưỡng về cơ bản đã mất và trong dưa muối còn chứa chất gây ung thư, vì thế nếu ăn quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe của cả mẹ và con. Bởi vậy, phụ nữ mang thai thích ăn đồ chua tốt nhất nên chọn những loại hoa quả tươi như hồng, anh đào, nho, táo, lựu… vừa có vị chua mà hàm lượng dinh dưỡng lại phong phú, vừa cải thiện được tình trạng “nghén” của mình và có thể kích thích ăn uống, tăng cường dinh dưỡng cho cơ thể.

Chế độ ăn của bà bầu như thế nào trong 3 tháng cuối thai kỳ?

Tốc độ phát triển của thai nhi trong 3 tháng cuối thai kỳ là rất nhanh chóng, vì vậy đòi hỏi bà bầu cần phải được cung cấp các dưỡng chất cần thiết. Vậy thì chế độ ăn của bà bầu như thế nào trong 3 tháng cuối thai kỳ là gì?

Ở giai đoạn này, chất dinh dưỡng không chỉ cung cấp cho sự phát triển của thai nhi, mà còn cần dự trữ lại một phần trong cơ thể người mẹ để chuẩn bị cho những việc như: mất máu khi sinh, tiêu hao thể lực, cho con bú… Do vậy, ba tháng cuối này, thai phụ cần quan tâm nhiều đến việc bổ sung những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao như các loại sữa, thịt nạc, các loại cá…

Để tăng cường hàm lượng khoáng chất và các vitamin cho cơ thể, phụ nữ mang thai cần ăn nhiều tôm, cua, rong biển, các sản phẩm chế biến từ đậu, xương sườn, gan lợn, các loại rau có màu vàng, xanh và hoa quả.

ba-bau-nen-an-gi-trong-3-thang-cuoi-thai-ky

Nước: Không nói thì ai cũng biết, nước cần thiết như thế nào đối với sức khỏe của con người. Uống thật nhiều nước khi mang thai sẽ giúp bạn có đủ lượng nước ối cần thiết, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, không bị táo bón và cơ thể luôn giữ được nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy, uống nhiều nước có thể ngăn chặn chứng co thắt tử cung sớm khi đẻ. Bởi vì, việc mất nước và nắng nóng sẽ khiến các hóc-môn kích thích cơn co thắt. Chúng ta nên uống từ 2 đến 2,5 lít nước mỗi ngày – uống thành những ngụm nhỏ, chứ không nên uống một cốc to một lúc, gây áp lực lên thận của bạn.

Những lưu ý khi bổ sung dinh dưỡng trong giai đoạn này

Bạn nên hạn chế hấp thu những thức ăn nhiều mỡ, các loại bột để tránh gây khó khăn cho việc sinh nở. Trong suốt quá trình mang thai, không nên ăn thức ăn quá mặn như: cá muối khô, dưa muối… Khi mắc bệnh huyết áp cao, hoặc phù thũng thì nên hạn chế ăn muối. Để hạn chế muối và xì dầu khi nấu ăn, bạn không nên cho muối và xì dầu và lúc ăn có thể rắc lên một chút, như vậy vừa có vị mặn lại đảm bảo lượng muối và xì dầu vừa phải. Cũng có thể ăn một số thức ăn có vị chua, hoặc vị ngọt để thay thế cho thức ăn có vị mặn.

Bạn nên chia các bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ để không gây áp chế cho thành bụng và dạ dày của mình trong thời gian này, đồng thời giúp cho việc hấp thu dinh dưỡng được tốt hơn.

Trong giai đoạn này, bạn cần đặc biệt chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm để tránh bị ngộ độc thức ăn, tránh các bệnh tiêu hóa ảnh hưởng đến thai kỳ, thai nhi và quá trình sinh nở của bạn.

Khi bị động thai, mẹ bầu nên làm gì để bảo đảm an toàn thai nhi?

Động thai là gì? Khi bị động thai mẹ nên làm gì? Động thai (dọa sảy thai) chính là khi âm đạo xuất hiện một ít máu kèm theo mỏi vai, đau bụng hoặc bụng dưới trương lên. 

1. Nguyên nhân gây ra hiện tượng động thai

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến động thai như: Trứng đã thụ tinh bị teo lại; thai trùm; bệnh về máu; bệnh về tử cung (viêm nhiễm cổ tử cung, u tử cung, ung thư cổ tử cung, tử cung co rút khác thường); thể chất, khí huyết của thai phụ bị suy nhược; làm việc quá sức, chế độ nghỉ ngơi không hợp lí, ăn uống thiếu dưỡng chất. Ngoài ra còn có thể do sự bất thường về nhiễm sắc thể và mẹ mắc một số bệnh như: sốt cao, suy tim, bệnh thận mạn tính, mất cân bằng nội tiết. Thêm vào đó, thai nhi phát triển không khoẻ cũng là nguyên nhân của hiện tượng này. Yếu tố thai nhi lạ thường có thể do tinh khí của người chồng không đủ, thai nguyên không ổn định dẫn đến dò thai hoặc động thai.

nen-lam-gi-khi-bi-dong-thai

2. Cách nhận biết hiện tượng này

Khi thai phụ thấy cơ thể có các biểu hiện khác thường, đặc biệt là hay bị đau bụng. Một số trường hợp là điều bình thường. Tuy nhiên, nếu thấy những dấu hiệu như: cảm giác hơi đau tức ở bụng dưới và mỏi ở vùng thắt lưng, có thể có ít dịch màu hồng nhạt hoặc vài giọt máu chảy ra ở âm đạo… thì bạn nên nghĩ đến hiện tượng động thai để phát hiện sớm và có biện pháp an thai kịp thời.

3. Phân biệt các dấu hiệu của doạ sảy thai (động thai) và sảy thai

– Nếu bị dọa sẩy thai bạn sẽ thấy: Xuất huyết âm đạo và đau bụng, nhưng thai nhi vẫn còn sống và chưa bị đẩy ra khỏi buồng tử cung. Cổ tử cung vẫn đóng kín, hoặc mở nhưng các thành phần của thai chưa bị tụt ra.

– Nếu là sẩy thai: Thai nhi đã chết và đang được đẩy ra ngoài. Có thể là sẩy thai hoàn toàn (toàn bộ thai nhi lẫn nhau thai cùng bị tống ra một lúc, sau đó hết đau quặn bụng, nhưng máu vẫn có thể tiếp tục rỉ ra như kinh nguyệt) và không hoàn toàn (một phần của thai và nhau thai vẫn còn trong tử cung; tuy đã bớt đau quặn bụng nhưng máu âm đạo vẫn chảy liên tục, thậm chí băng huyết).

Như vậy, động thai (theo cách gọi của dân gian) là hiện tượng vẫn thường xảy ra trong quá trình phát triển của thai nhi. Tuy mức độ nguy hiểm của nó chưa cao nhưng chứa đựng “mầm mống”, “điểm báo trước” của hiện tượng sẩy thai. Vậy nên thai phụ cần chú ý để không có tình trạng đáng tiếc xảy ra.

4. Nên làm gì khi bị động thai?

– Nếu thấy các dấu hiệu trên, thai phụ phải nằm nghỉ ngơi và uống thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

– Tuyệt đối không được an thai một cách bữa bãi.

– Khi đau, tránh xoa bóp bụng.

– Nghiêm cấm quan hệ vợ chồng. Đồng thời, cố gắng ít tiến hành những việc kiểm tra âm đạo để tránh những kích thích cổ tử cung.

– Khi bị động thai, bạn cũng cần lưu ý thêm tới chế độ ăn uống. Ăn các loại thức ăn dễ tiêu hoá, ít dầu mỡ, chú ý đến việc kết hợp giữa rau xanh, hoa quả và tinh bột, không được ăn những loại có chất kích thích, nghiêm cấm hút thuốc lá, uống rượu, bia.

– Không ăn các thức ăn sống như: rau sống, gỏi cá… để phòng bệnh tả dẫn đến sẩy thai. Theo đông y, một số món ăn có thể giúp thiên giảm hiện tượng này như cho thai phụ ăn cháo hạt sen, cháo bầu dục, cháo cá chép…

nen-lam-gi-khi-bi-dong-thai

5. Để phòng, tránh động thai bạn cần:

– Luôn giữ cho tư tưởng, tâm lí thực sự thoải mái. Tránh căng thẳng, stress quá nhiều.

– Ăn uống đủ dưỡng chất, nhất là các chất đạm (như thịt, cá, trứng, sữa, đậu), hoa quả, rau tươi… trong suốt quá trình mang thai. Nghỉ ngơi hợp lí, không thức quá khuya.

– Tránh lao động nặng và giao hợp nhiều trong những tháng đầu và tháng cuối mang thai.

– Luyện tập thể dục nhẹ nhàng để tăng cường sức khoẻ.

– Không hút thuốc lá và uống các đồ uống không tốt cho sự phát triển của thai như: bia, rượu, cafe…

– Khám thai định kì là giải pháp hữu hiệu nhất để theo dõi sức khoẻ của mẹ và bé.

Sau khi sinh bao lâu thì được quan hệ tình dục?

Sau khi sinh bao lâu thì được quan hệ tình dục? Nếu như kiêng cữ “chuyện ấy” quá lâu lại ảnh hưởng không tốt đến hạnh phúc gia đình. 

Sau sinh bao lâu thì được quan hệ để cả hai vợ chồng cùng đạt tới khoái cảm thăng hoa như lúc mới yêu. Điều này có thực sự phụ thuộc vào thời điểm, hãy cùng lắng nghe chuyên gia phân tích.

Sau sinh bao lâu thì được quan hệ?

Sinh thường hay sinh mổ đều không hạn chế thời gian quan hệ trở lại. Tuy nhiên, sau sinh mổ nếu quan hệ không nhẹ nhàng có thể gây đau vết mổ trong tử cung hay thành bụng.

Sau khoảng thời gian kiêng cữ để hiện tượng máu chảy sau sinh ngưng hoàn toàn, thường mất khoảng 3 tuần với mẹ sinh tự nhiên. TS.BS Bùi Chí Thương khuyên các mẹ nên chờ ít nhất từ 6-8 tuần mới nên quan hệ trở lại.

sau-sinh-bao-lau-thi-duoc-quan-he-tinh-duc

Sở dĩ sau sinh vẫn chưa hết sản dịch là bởi máu vẫn còn đọng trong tử cung khi thai nhi được đẩy ra ngoài. Đồng thời vùng kín cũng cần thời gian để phục hồi. Nếu quan hệ trước khi sản dịch hết thì khả năng nhiễm trùng rất cao.

Các yếu tố khiến nhiều mẹ giảm ham muốn

Trường hợp các mẹ quay trở lại sớm với đời sống tình dục vợ chồng trong tháng đầu tiên là rất hiếm, thậm chí là không có. Khoảng thời gian ở cữ, đa số mẹ đều không thích cảm giác quan hệ trở lại vì nhiều lý do:

– Cảm thấy mệt mỏi vì thiếu ngủ

– Chăm con làm người mẹ kiệt sức

– Nếu cho con bú, hormone prolactin có thể làm giảm ham muốn

– Thiếu sự sẻ chia từ chồng

– Stress sau sinh khiến phụ nữ không mấy hứng thứ với tình dục

– Cảm thấy bị đau đơn vì những vết khâu tầng sinh môn…

Với những mẹ phải chịu những mũi khâu tầng sinh môn nhiều, cần chờ đợi thêm thời gian mới nên quan hệ trở lại để cơ thể có thêm thời gian phục hồi. Còn đối với sinh mổ, các mẹ cũng cần thời gian để lành lại vết mổ ở phần bụng.

sau-sinh-bao-lau-thi-duoc-quan-he-tinh-duc

Quan hệ sau sinh cần lưu ý những gì?

Cả hai vợ chồng chỉ cần thoải mái hơn về tư tưởng. Chồng cần cùng vợ sẻ chia việc chăm sóc bé để bà xã có thời gian nghỉ ngơi và dần bình phục. Nếu sau thời gian dài cố gắng mà chị em vẫn mất hứng thú với “chuyện ấy”, mẹ cần phải đến gặp các bác sỹ tâm lý để được tư vấn và điều trị kịp thời.

Sau khi sinh con, kể cả sinh mổ hay sinh thường thì cơ thể người mẹ đều phải chịu rất nhiều tổn thương. Do đó cần mất một khoảng thời gian nhất định để các vết thương này phục hồi, sau đó mới nên quan hệ vợ chồng.

Khi mới bắt đầu quan hệ trở lại, lúc này niêm mạc âm đạo khá mỏng, kém đàn hồi và âm đạo cũng khá khô nên người mẹ có thể cảm thấy hơi rát. Lúc đó, vợ chồng cần có sự sẻ chia để chuyện “chăn gối” có thể nhẹ nhàng mà lại không bị tổn thương.